Chat ngay

DỊCH VỤ MỚI

KHÁM SỨC KHỎE quán FnB

THIẾT KẾ QUÁN FnB

Tư vấn Thiết kế Quán

THI CÔNG QUÁN FnB

Thi công Quán trọn gói

SẢN PHẨM MỸ THUẬT

Những sản phẩm Mỹ thuật số lượng giới hạn

ĐÀO TẠO MỸ THUẬT

Đào tạo - Luyện thi Mỹ thuật và Kiến trúc

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Mỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Mỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
3.9.16

3 cách phân biệt tranh thủy mặc và tranh màu nước

LÀM SAO PHÂN BIỆT TRANH THỦY MẶC VÀ TRANH MÀU NƯỚC?

Huỳnh Nguyễn Bảo Việt - CEO Ngôi nhà Mỹ thuật đã chia sẻ về vấn đề này như sau, trích trong bài viết Khai mạc giới thiệu tranh thủy mặc Hoàng Văn Giang.

Hôm nay tôi xin phép có đôi lời chia sẻ cách nhận biết và phân biệt tranh thủy mặc và tranh màu nước, tuyệt nhiên không có ý đề cao hoặc hạ thấp một trong hai loại tranh này.
tranh mau nuoc binh duong
Tranh màu nước cổ điển tiêu biểu nhất
THỂ LOẠI HAY CHẤT LIỆU?
Tranh thủy mặc, tranh màu nước, hay tính cả tranh thuốc nước,... đều sử dụng nguyên liệu màu và nước là chủ yếu. Thật ra từ "màu nước" và "thuốc nước" nhằm chỉ nguyên liệu chính được sử dụng trong tranh, chứ không nhằm chỉ thể loại tranh. Còn từ "thủy mặc" là thể loại tranh, chúng ta cần phân biệt rõ "thể loại" tranh và "chất liệu" vẽ tranh trước khi đọc tiếp bài viết này.

Như vậy rõ ràng không thể phân biệt tranh thủy mặc và tranh màu nước được, vì tranh thủy mặc là một "thể loại" còn tranh màu nước là một "chất liệu". Hai mệnh đề hoàn toàn khác nhau không thể mang so sánh cùng nhau. Giống như hội họa phương Tây, không ai lại đi phân biệt tranh "sơn dầu" và tranh "trừu tượng" cả, không cần biết tranh trừu tượng đó có được vẽ bằng sơn dầu hay không.
Tuy nhiên, tôi sẽ viết sơ lược về tranh màu nước, để mọi người có thể hiểu được tranh màu nước, rồi sẽ tự có sự phân biệt với tranh thủy mặc.
Màu nước (tiếng Anh: watercolour, tiếng Pháp: aquarelle) là một chất liệu tương đối dễ sử dụng, dễ mang theo bên mình, được sử dụng phổ biến ở những quốc gia có khí hậu nóng và ấm. Màu nước thường được dùng trong vẽ phác thảo, tuy nhiên một số họa sĩ rất thành công và nổi tiếng với chất liệu này, ở Việt Nam ta có Bùi Duy Khánh, Hồ Hùng, Nguyễn Ngọc Quân, ...
Tranh màu nước có màu sắc đa dạng, phong phú hơn thể loại tranh thủy mặc cổ điển (thường chỉ sử dụng mực để vẽ màu đơn sắc và nhấn một vài điểm nhấn nhẹ nhàng). Hiện nay theo những trào lưu nghệ thuật đương đại, tranh màu nước cũng được nâng cao rất nhiều, sử dụng được trong nhiều trường phái hội họa phương Tây như: Ấn tượng, Trừu tượng, hay gần đây nhất là Cực thực.
NGUỒN GỐC
Nếu tranh thủy mặc được xem là có nguồn gốc từ Trung Hoa, thì tranh màu nước lại được xem là có nguồn gốc từ Đức thời kỳ Phục hưng những năm 1500. Ảnh trong bài viết vẽ chú thỏ bằng màu nước vào năm 1502 của họa sĩ người Đức tên là Albrecht Dürer.
Về sau, chất liệu màu nước nhanh chóng lan ra khỏi Châu Âu, trở thành chất liệu phổ biến trên toàn thế giới.
Tóm lại, có thể nôm na phân biệt tranh màu nước và tranh thủy mặc như sau:
- Tranh màu nước bắt nguồn từ Châu Âu, tranh thủy mặc bắt nguồn từ Trung Hoa.
- Tranh màu nước vẽ bám sát hiện thực, diễn họa kỹ cấu tạo và chi tiết của sự vật hiện tượng. Tranh thủy mặc chủ yếu diễn họa cái hồn của sự vật hiện tượng.
- Tranh màu nước có màu sắc phong phú, tranh thủy mặc sử dụng mực đen và điều chỉnh lượng nước là chủ yếu.

Bản thân tôi, lâu nay nghĩ rằng tranh màu nước là tranh hiện đại, tranh thủy mặc là tranh cổ xưa, nhưng đó là ý nghĩ cá nhân để cho dễ xem tranh hơn thôi. Thật ra một số họa sĩ đương đại vẫn vẽ tranh thủy mặc, thậm chí rất đỉnh cao. Ngược lại, những họa sĩ cổ xưa cũng có vẽ tranh màu nước. Đi xem tranh cứ dựa vào 3 gạch đầu dòng trên là đủ để phân biệt được hai loại tranh rồi.
Thân ái.

31.7.16

Hướng dẫn tự cắt chữ mốp cực đẹp để trang trí bàn tiệc tại Bình Dương

HƯỚNG DẪN CẮT CHỮ MỐP XỐP TRANG TRÍ BÀN TIỆC RẺ ĐẸP TẠI BÌNH DƯƠNG

Trang trí tiệc cưới, liên hoan, sinh nhật, thôi nôi tại Bình Dương đã không còn quá xa lạ với mọi người nữa. Chỉ từ 2 triệu đồng, khách hàng đã có ngay một bàn tiệc lung linh, là nơi để gia đình, bạn bè, người thân sum họp và chụp những hình ảnh kỷ niệm tuyệt đẹp, cho ngày vui thêm ý nghĩa.

Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Chữ mốp xốp trang trí bàn tiệc lung linh tại Bình Dương

Bài viết này sẽ hướng dẫn cách tự cắt chữ mốp xốp bằng tay dành cho những ai thích tự làm nhé! Chữ mốp xốp rẻ đẹp nhất Thủ Dầu Một Bình Dương !

CHỮ MỐP XỐP RẺ ĐẸP NHẤT BÌNH DƯƠNG
chỉ từ 120k có ngay 1 chữ TO ĐÙNG !
0919691463
TRANG TRÍ BÀN TIỆC RẺ ĐẸP NHẤT BÌNH DƯƠNG
chỉ với 2 triệu đồng !

Nguyên liệu cần có:
- 1 tấm mốp dày 5 cm, dài 200cm và rộng 50cm.
- 1 cái Dao trổ, dao rọc giấy sắc bén.
- 1 cây Bút lông.
- 1lit Sơn màu tùy thích. Ở bài này chúng ta sử dụng màu vàng tươi.
- 100g Kim tuyến cùng màu với sơn.
- 1 tờ Giấy nhám.
- 1lit Sơn bóng chống thấm.
- 1/2lit Keo sữa.

Thời gian làm khoảng 7 tiếng dành cho Chữ mốp xốp rẻ đẹp TDM BD.

Công đoạn:

1. Chia tấm mốp ra các ô vuông đều nhau bằng bút lông, mỗi ô vuông có cạnh là 5cm. Sau đó vẽ chữ mình thích lên đó. Ở đây mình viết chữ GOLD.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Kẻ chữ bạn thích lên tấm mốp xốp
2. Dùng dao trổ, cắt các chữ ra. Chú ý cẩn thận, dao sắc bén rất dễ đứt tay. Lúc cắt chậm rãi, tỉ mỉ, đừng để phạm vào bên trong các chữ cái nhé! Sau khi cắt xong thì dùng giấy nhám chà sơ các cạnh bên đi, và tỉa lại những chỗ lồi lõm, đến khi thấy vừa ý nhất.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Tỉ mỉ cắt lấy từng chữ mốp ra

3. Dùng cọ sơn đều các mặt của chữ, dùng giấy báo lót dưới nền để khỏi phải dính sơn xuống nền nhà. Chú ý chỉ sử dụng sơn nước, acrylic, các sơn màu có gốc nước, không sử dụng sơn dầu pha xăng, sẽ làm tan chảy mốp.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Sơn màu bạn thích lên 4 mặt của chữ mốp

4. Sau khi lớp sơn màu đã khô, chúng ta pha keo sữa với nước theo tỉ lệ 4 chén nước 1 chén keo sữa. Khuấy hỗn hợp đều ra, sau đó cho 1/2 lượng kim tuyến vào khuấy đều như trong hình.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Cho 1/2 kim tuyến vào hỗn hợp keo sữa và nước

Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Khuấy đều hỗn hợp kim tuyến và keo sữa

5. Quét đều hỗn hợp keo + kim tuyến này lên mặt trước của chữ mốp. Lúc hỗn hợp keo chưa khô, bạn mang găng tay y tế và lót báo dưới nền nhà, dùng tay nắm 1 nắm kim tuyến khô rải đều lên bề mặt chữ, sau đó nghiêng chữ cho phần kim tuyến thừa rớt xuống tờ báo bên dưới để sử dụng tiếp. Cứ như thế cho đến khi thấy bề mặt chữ đã phủ đều kim tuyến. Mang đi phơi ngoài trời nắng gió cho nhanh khô.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Mang chữ mốp ra phơi khô ráo
6. Cuối cùng chúng ta phủ 1 lớp keo chống thấm lên bề mặt chữ, mục đích để chữ được cứng cáp hơn và kim tuyến sẽ không bị bong tróc sau này. Vậy là chúng ta đã có được 1 chữ mốp xốp tự cắt cực đẹp để trang trí bàn tiệc rồi.
Chữ mốp xốp rẻ đẹp thủ dầu một bình dương
Chữ mốp xốp hoàn thiện cực đẹp
Nếu có công đoạn nào chưa hiểu hoặc chưa làm được, hãy inbox với chúng tôi qua Fanpage để được trợ giúp nhanh nhất nhé! Sau đây là những hình ảnh trang trí bàn tiệc do chúng tôi thực hiện, nếu quý khách muốn đặt hàng hãy gọi số hotline 0919691463, cảm ơn đã xem bài viết!

Trang trí bàn tiệc rẻ đẹp nhất Bình Dương
Chữ mốp khi đặt lên trên bàn tiệc lung linh
Trang trí bàn tiệc rẻ đẹp nhất Bình Dương
Các phụ kiện trang trí bàn tiệc giá rẻ nhất Bình Dương
Trang trí bàn tiệc rẻ đẹp nhất Bình Dương
Thêm một chút khéo léo, một chút yêu thương, bàn tiệc sẽ cực kỳ ấm áp
Trang trí bàn tiệc rẻ đẹp nhất Bình Dương
Trang trí tiệc giá rẻ nhưng ý nghĩa và niềm vui bất tận

Trang tri bong bong nghe thuat re dep binh duong
Bong bóng nghệ thuật tô điểm cho không gian tiệc sinh động, nhiều màu sắc

CHỮ MỐP XỐP RẺ ĐẸP NHẤT BÌNH DƯƠNG: chỉ từ 120k có ngay 1 chữ TO ĐÙNG !

TRANG TRÍ BÀN TIỆC RẺ ĐẸP NHẤT BÌNH DƯƠNG: chỉ từ 2 triệu đồng !

Ngôi nhà Mỹ thuật - trang trí mỹ thuật trọn gói RẺ ĐẸP
ĐỪNG BAO GIỜ TRANG TRÍ NHÀ BẠN
TRƯỚC KHI LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

Hotline: 0919691463 hân hạnh tư vấn mỹ thuật miễn phí 24/7

8.3.16

Nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (P4) - Phụng

Nghiên cứu Tứ Linh: Lân, Long, Qui, Phụng trong Mỹ Thuật Việt Nam (Phần 4)

Đây là Phần cuối cùng trong Những bài nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam. Qua 3 phần đầu, chúng ta đã biết một cách tổng quát về ba Linh vật : Long, Lân, và Quy. Bài cuối cùng này sẽ giới thiệu về Linh vật cuối cùng:


CHIM PHỤNG HOÀNG

Người Việt Nam chúng ta cũng như người Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên tin rằng Phụng Hoàng là linh điểu, khi xuất hiện sẽ mang lại điềm lành, báo hiệu thời thái bình thịnh trị và có thánh nhân xuất hiện.

Truyền thuyết kể rằng Phụng Hoàng là vua của các loài chim, Phụng Hoàng chỉ ăn quả trúc, uống nước suối trong và đậu trên cây ngô đồng. Khi bay có hàng trăm loài chim bay theo chầu hầu. Hình dáng chim Phụng rất đẹp, mỏ như mỏ gà mái, cổ như cổ rắn, đầu chim én, lưng rùa. Cánh xòe ra rất rộng, lông màu ngũ sắc và cứng như chất kim, đuôi tựa như những ngọn lửa và trông cũng giống như đuôi cá. Phụng hoàng có mười hai lông đuôi tượng trưng cho mười hai tháng, năm nhuận thì có thêm một lông ngắn tượng trưng cho tháng mười ba. Thân mình cao sáu thước, chứa đựng ý nghĩa của sáu hình ảnh: đầu tượng trưng cho trời, mắt là mặt trời, lưng là mặt trăng, cánh là gió, chân là đất, đuôi là tượng trưng của những vì sao.

Tiếng hót chim Phụng dịu dàng bay bổng, có đủ ngũ âm: cung, thương, giốc, chủy, vũ, khi hót lên thì hết thảy các giống chim khác đều bay lại nhịp nhàng hòa điệu.

Phụng Hoàng cất cánh bay từ phương Đông, bay thẳng đến núi Côn Lôn, uống nước tinh khiết ở suối Để Trụ, tắm cánh ở biển Nhược Thủy (biển có tên Nhược Thủy vì nước ở đây rất nhẹ đến đổi lông chim thả vào cũng không thể nổi lên được), và rồi sau cùng bay đến đậu trên ngọn núi cao Đơn Tuyệt.

Chuyện truyền kỳ còn chép việc Tiêu Sử đời nhà Châu, khi thổi ống tiêu bằng ngọc do Thượng đế ban cho, tiếng kêu như chim Phụng gáy nên thối chốc lát thì bốn phía mây ngũ sắc bồng bềnh, chim bạch hạc bay đến múa lượn, và biết bao nhiêu giống chim khác bao quanh, con bay, con đậu, kêu hót líu lo vô cùng ngoạn mục. Tiêu Sử dạy cho vợ là công chúa Lộng Ngọc, con vua Tần Mục Công thổi tiêu, chỉ trong nửa năm, Lộng Ngọc thổi khúcPhượng cầu Hoàng (chim Phụng trống tìm chim Phụng mái) rất tuyệt diệu. Một đêm kia, hai vợ chồng đang hòa tiêu, có chim Phụng bay xuống, nàng cỡi tử Phụng, chồng cỡi xích long, hai ngươi bay thẳng về tiên giới.

Năm xưa, Đô Thành Hiếu Cổ Tập San (Builletin des Amis du Vieux Huế) có công bố tài liệu của một nhà điểu cầm học người Nhật Bản là ông U. Hachisuka cho rằng chim Phụng thường được mô tả trong mỹ thuật Trung Hoa là lấy kiểu mẫu từ con chim trĩ xứ Đông Dương (faisan ocellé d’Indochine). Ông Jabouille, một nhà nghiên cứu người Pháp xác định thêm đấy là con chim trĩ sống ở triền núi phía Đông dãy Trường Sơn, một giống chim cực kỳ quý hiếm đối với toàn thế giới. Khảo cứu trên bình diện vạn vật học cũng là một điều hết sức thú vị và hấp dẫn, tuy thế không phải là đối tượng của bài viết này. Ở đây, chúng ta chỉ lưu tâm đến Phụng Hoàng trong văn hóa mỹ thuật, và có lẽ vì thế chúng ta chẳng thể nào quên được con chim Phụng kỳ vĩ, cao khiết, vô cùng lộng lẫy, bay liệng giữa đêm tối bí ẩn, trên trời Đâu Suất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.

Nhớ khi xưa, ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất,
Bay tù Đao Lỵ, đến trời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
Lúc đằng vân, gặp ánh sáng chận đường
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ,
Ta lôi đình, thấy trăng sao liền mổ,
Sao tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ,
Ở ngôi cao ngước mắt ra ngoài bể,
Phong lưu ghê, sang trọng nỏ vừa chi!

Vài thành ngữ điển tích liên hệ đến Phụng Hoàng:
Phụng mao lân giác: lông chim Phụng và sừng kỳ lân, nghĩa là vật hiếm có, chỉ người tài giỏi, xuất chúng hoặc con cháu hiền tài của những danh gia vọng tộc.
Tiên sa Phụng lộn: đẹp đẽ, xinh tốt như tiên như Phụng (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam Quấc âm tự vị).
Phụng gáy Kỳ sơn: chim Phụng gáy ở núi Kỳ Sơn. Khi vua Văn Vương ra đời, chim Phụng gáy vang ở núi Kỳ Sơn, ý nói điềm lành, có thánh nhân, hiền giả hay bậc anh tuấn xuất hiện.
Phụng liễn: kiệu hoặc xe có hình chim Phụng của nhà vua và hoàng gia. Cũng còn có nghĩa là xe của tiên đi. Sách Nho chép: Tây Vương mẫu đi trên cỗ chim Phụng đến yến tiệc với Mục Vương. Nghĩa thông thường: cỗ xe đẹp, rực rỡ (Bửu Kế, Tầm nguyên tự điển).
Phụng thành: thành có chim Phụng đậu, chỉ kinh đô, nơi vua ở,. cũng do điển công chúa Lộng Ngọc ngồi trên thành thổi ống tiêu, Phụng liền bay đến nên đặt tên là Phụng hoàng thành.
Phụng kỳ: cờ thêu hình chim Phụng, cờ của vua.

Thường gọi chung là Phụng Hoàng nhưng thực ra thì Phụng là con chim trống và Hoàng là con chim mái. Loại chim này có đặc tính lúc nào cũng ở gần bên nhau, thường dùng để ví tình vợ chồng khắng khít nên có câu: Phụng hoàng vu phi, hòa mình tương tương (đôi Phụng cùng bay, cùng cất tiếng kêu hòa họp).

Loan là một giống chim cùng loài với Phụng, hai giống chim này thường chắp cánh bay đi cùng nhau, do vậy chữ Phụng Loan thường để ví cuộc hôn nhân hay tình vợ chồng. Loan Phụng hòa minh (Loan Phụng cùng hót lên êm đềm), người ta thường dùng điển này để chúc vợ chồng mới cưới hạnh phúc tươi đẹp, bền vững lâu dài.

Người Việt xem chim Phụng là linh vật, nhưng cùng lúc đã kéo con vật kỳ bí này đến gần với cuộc nhân sinh. Đặc biệt nhất, chim Phụng tượng trung cho Hoàng Hậu, bậc mẫu nghi thiên hạ. Vậy nên trên những đồ dùng của nhà vua như áo mũ thường trang trí hình rồng, và trên áo mũ Hoàng Hậu thì trang trí hình Phụng. Nhưng thường thì nó gợi lên hình ảnh người phụ nữ và sự hòa hợp trai gái, như nơi đồ hình hai con Rồng, Phụng đang châu mình đùa giỡn chữ Song Hỷ ở giữa. Hình tượng này rất phố cập trong sinh hoạt của nhân dân ta khắp nơi, nhất là trong những đám cưới xin, ăn hỏi, bỏ trầu.

Khi thấy các đồ vật gia dụng như giường, tủ, bàn, ghế, giá gương, tráp, hộp, quạt giấy, khăn bàn, đèn lồng, chậu nước với hình con Phụng được sử dụng trang trí chủ yếu trên ấy, chúng ta dễ dàng biết được ngay đấy là đồ dùng dành riêng cho phụ nữ.

phuong chau mat troi
Phượng chầu mặt trời, trán bia tiến sĩ, Văn Miếu Hà Nội.

Tô điểm cho các công trình kiến trúc lớn thuộc nền nghệ thuật truyền thống, chim Phụng được đắp tạc, vẽ vời chạm trổ trên mái nhà các cung điện, triều miếu, phủ đệ, đền chùa, đặc biệt nơi các đền thờ thần nữ, nơi nhà ở và lăng mộ các hoàng hậu, công chúa, dễ gặp nhất là trên các bình phong, đứng một mình hay hiện ra trong bộ tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng.

Trong công trình ghi chép đặc sắc về mỹ thuật Huế, L. Cadière nhận xét rằng nơi các ngôi chùa ở miền Bắc thường có hình bốn con Phụng quấn quanh các trụ cột phía trước rất đẹp nhưng ở Huế thì không thấy có dạng này.

Chim Phụng đứng một mình trên lóp sóng lô xô, đôi lúc là hai con đang uốn lượn và quay đầu châu vào một vùng dương ở giữa, chung quanh là những vầng mây la đà, bên dưới là những lớp sóng nước tầng tầng. Chúng ta nên lưu ý ở đây là hết thày bốn con vật trong tứ linh dường như đều có duyên nợ với nước, con nào cũng nhiều phen hiện ra trên sóng nước, quẫy đạp hoặc phun những tia nước vô cùng ngoạn mục.

Trên quần thể kiến trúc cung đình Huế, con Phụng xuất hiện khắp nơi nhưng bao giờ cũng phụ thuộc vào con Rồng mới là chủ yếu. Dưới chế độ phong kiến, các bậc đế vương thường cho chạm khắc hình chim Phụng với ý nghĩa triều đại họ ngự trị là thời thái bình an lạc, như các thời hoàng kim thịnh trị trước đây, chim Phụng đã bay về chầu hầu.

Phụng Hoàng thường ngậm trong miệng một dải lụa bay phất phới, quấn lấy một cái hộp vuông, có thể đấy là cái tráp thư, hay hai cuộn tròn có dạng như hai cuốn sách xếp lại, đôi khi người nghệ sĩ lúc vẽ vời lại dặm thêm vào đấy một quản bút. Dạng này thường được gọi là Phụng hàm thư. Cũng có người cắt nghĩa rằng đấy chính là chim Phụng đang ngậm dải lụa quấn quanh bộ cổ đồ của vua Phục Hy.

Ngoài hình dáng thân thuộc con Phụng thần thoại ấy, chúng ta còn có những biến dạng khác, từ một gốc cây kiểng hay một cành hoa, như cành đào, cây cúc, nhánh mai, cành mẫu đơn, nhánh hoa loa kèn đỏ (amaryllis) biến hóa mà thành Phụng. Nhà sưu tập cổ ngoạn Vương Hồng Sển đã cho chúng ta xem hình một nhánh cây biến thể thành Phụng vẽ trên lòng một đĩa sứ men lam xứ Huế đề hiệu Trân ngoạn (thế kỷ XIX), có đủ đầu, cánh, đuôi, mắt, mỏ, mồng, và chú thích thêm: khách Tây phương không hiểu nghệ sĩ trổ hình gì, ký kỳ quái quái, ngươi Á Đông quen với thuyết Lão Trang hư không huyền ảo lại thích thú và lấy lâm tự nhiên khi thấy từ giới thảo mộc có thể trở thành sanh cầm điểu thú dễ dàng.


Suốt gần mười thế kỷ qua, hình tượng con Phụng đã gắn bó thân thiết với nền nghệ thuật tạo hình của dân tộc, đã tự biến chuyển để hoàn chỉnh dần với thời gian và lịch sử. Từ dạng vẻ có phần nặng nề dưới thời Lý-Trần như hình chim Phụng ở chùa Thái Lạc, Hải Hưng thế kỷ XIV, chắc hẳn có mang nhiều dấu vết của chim Kinnari, là nhạc công đầu người mình chim trên cõi trời của đất nước Champa cổ, đến thời Lê Mạc những con chim Phụng đã thanh hóa hơn nhiều, như những hình ảnh Phụng khá đẹp ở chùa Bút Tháp (Hà Bắc, thế kỷ XVII) hay ở đình Đình Bảng và trên những trán bia tiến sĩ khắc đá ở văn miếu Hà Nội, đến thời Nguyễn, phải nói là vẻ đẹp thanh nhã, mỹ lệ của chim Phụng Hoàng đã là một chỉnh thế tuyệt đẹp, góp rất nhiều phần cho nền nghệ thuật trang trí chung của toàn bộ đất nước.

Bài viết nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (4 phần) đến đây là hết. Hi vọng sẽ củng cố thêm kiến thức về mỹ thuật truyền thống trong lòng Quý vị và các bạn.
Cảm ơn Quý vị và các bạn đã dành thời gian theo dõi và tìm hiểu.

Ngôi nhà Mỹ thuật,
Biên soạn từ các nguồn
Wikipedia & nghethuatxua

Có thể bạn muốn đọc lại để tìm hiểu kỹ hơn :
Nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (P1) - Rồng
Nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (P2) - Kỳ Lân
Nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (P3) - Rùa

Like và Share nếu bạn cảm thấy bài viết này là có ích cho mọi người nhé !

Nghiên cứu về Tứ Linh ở Việt Nam (P3) - Quy

Nghiên cứu Tứ Linh: Lân, Long, Qui, Phụng trong Mỹ Thuật Việt Nam (Phần 3)



Lân, Long, Qui, Phụng là những linh vật quen thuộc trong đời sống văn hóa, tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông. Trong đó chỉ có Rùa là Linh vật có thật, ai trong chúng ta cũng biết đến. Thế nhưng hình tượng rùa trong Văn hóa và Mỹ thuật Việt Nam qua các thời đại chuyển biến như thế nào? Bài viết này Ngôi nhà Mỹ thuật sẽ chia sẻ nghiên cứu về Linh vật đứng hàng thứ 3 này.

RÙA


BIỂU TƯỢNG VỮNG CHẮC CỦA SỰ TRƯỜNG SINH BẤT TỬ

Trước tiên, Rùa tượng trưng cho sự trường thọ và bền vững bói vì tự bản thân loài sinh vật này có khi kéo dài cả ngàn năm hay còn hơn thế nữa. Về phương diện sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư, tuổi thọ rất cao, có thân hình vững chắc, cứng rắn, gợi nên vẻ bền vững của đá tảng, lại giỏi nhịn ăn như là một khả năng tự vệ vô cùng lạ lùng. Rùa sống rất lâu. Như gần đây, một nhà nông ở tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) bắt được một con rùa lạ ở núi Tiên Nham. Con rùa đó đã được xem xét kỹ lưỡng và được kết luận là đã sống qua trên dưới 800 năm. Chúng ta cũng còn nhớ chuyện Tư Mã Thiên chép trong sách Sử Ký: có một ông già đặt con rùa làm vật kê dưới chân giường. Hai mươi năm sau, con cháu cụ già di chuyển chiếc giường và phát hiện con rùa vẫn còn sống dù không được ăn uống gì cả.

Bên Trung Quốc, đời nhà Đường, vua Hiến Tông (806-820) được một viên quan tuần phủ tiến dâng một con Rùa có lông, nhà vua rất đẹp lòng, xem như là một lời cầu chúc cực kỳ tốt đẹp. Thực sự làm gì có chuyện Rùa có lông, đấy chỉ là rong rêu theo chiều dày của thời gian mà bao phủ quanh mu Rùa, đúng như mấy chữ ẩn dụ trong kinh Lăng Nghiêm: Qui mao thố giác (lông rùa sừng thỏ) để chỉ những sự việc không thể nào có được.

Do cuộc sống như thế của loài Rùa, chúng ta có thành ngữ Linh qui hạc phát (tuổi rùa tóc hạc), mái tóc bạc trắng phau như lông chim hạc, cộng thêm với tuổi thọ qua nhiều thế kỷ của con rùa, là lời chúc đẹp đẽ nhất trong những dịp kỷ niệm thượng thọ, cũng là lời chúc mừng với các bậc trưởng lão vào buổi đầu xuân ấm áp khí dương.

Theo cổ sử Trung Hoa, vào hồi đại thủy tràn khắp cả nước, vua Hạ Vũ (2205-2198 TTL)đi trấn nước lụt, đào sông khai ngòi cứu cả trăm họ, bấy giờ có con thần qui hiện lên ở sông Lạc, mang trên mình những vạch chữ kỳ lạ nên bắt chước mà xếp ra cừu trù, đấy là nguồn gốc các mối luân thường và chính trị. Cũng như vua Phục Hy thấy đồ hình trên con Long mã trên sông Hoàng Hà, nhân đó bắt chước mà làm ra 8 quẻ, để làm tượng cho những sức vô hình, tức là thiên đạo, nền tảng của dịch lý, là nguồn gốc của văn tự, văn học và triết học của một dòng lớn phương Đông cố đại.

Vì dáng vẻ bên ngoài gây ngay ấn tượng của một khối thể vững chắc, con Rùa được người Trung Hoa xem là biểu tượng của sự bền vững, và cũng do thế ở nhiều nơi nó được thờ phượng làm vị thần bảo hộ các đê điều.

Lần theo dấu vết cũ, sử xưa cũng cho chúng ta biết: vua Nghiêu đã từng nhận cống vật của người Việt thường ở phương Nam (tức Giao Chỉ, gốc tổ người Việt sau này) vào năm Mậu Thân (2353 trước TL). Cống vật là con Linh qui, đường kính lớn 3 xích (1m2), bên trên lưng con Rùa thần này có hình những chữ khoa đẩu tức là những dáng chữ lăng quăng giống như con nòng nọc, đâu to đuôi nhỏ. ghi chép tất cả những biến chuyển trọng đại từ thuở khai trời mở đất. Vua Nghiêu truyền lệnh chép lại những bản văn thiêng trên lưng Rùa.

RÙA TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM


Rùa đội bia - Huế
Đối với chúng ta, trên con đường gian khổ hình thành lịch sử dân tộc, con Rùa linh cũng đã hai lần xuất hiện trở lại với đất nước. Lần thứ nhất, Rùa vàng tức là thần Kim qui đã giúp cho An Dương Vương (257-208 trước Công nguyên) xây thành Cổ Loa và đã tặng nhà vua chiếc móng để làm lẫy nỏ bảo vệ tổ quốc Âu Lạc. Lần thứ nhì, khi Lê Lợi chuẩn bị cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Rùa thần đã cho vị thủ lĩnh cuộc kháng chiến mượn thanh bảo kiếm để bình định giặc Minh. Nhưng khi trăm họ đã yên, đất nước đã vãn hồi nền độc lập thì Rùa thần đến đòi lại kiếm. Nhà vua gặp Rùa thần và trả lại kiếm trên hồ Tả Vọng, nên từ đó hồ cũng có tên là Hoàn Kiếm hay còn gọi là Hồ Gươm. Ngày nay, dưới chân tháp Rùa, đôi khi chúng ta còn gặp vài con Rùa rất lớn bò lên phơi minh dưới nắng ấm, và nơi đền Ngọc Son cùng trong phạm vi của hồ, nhân dân còn bảo tàng được xác một con Rùa bằng cả cái nia to nhất, được ước đoán ít lắm cũng đã sống trên 700 năm.


Con Rùa là hình tượng rất thân thuộc nơi các công trình văn hóa chung, quen thuộc nhất là những con Rùa được đục đẽo bằng đá, khắc tạc rất vững chắc, đang đỡ lấy trên lưng mình tấm bia đá nặng ghi công đức những bậc danh nhân và hiền tài của đất nước. Điển hình là những hàng bia trước sân Văn Miếu (Hà Nội), chính vua Lê Thái Tông đã ra lệnh dựng bia tiến sĩ đầu tiên mở vào khoa Nhâm Tuất (1442) để lưu truyền vạn cổ, làm tấm gương sáng cho muôn đời.

Tượng Rùa đội hạc
Như 82 tấm bia tiến sĩ thời Lê ở Hà Nội, 32 tấm bia tiến sĩ thời Nguyễn trước sân Văn Miếu Huế, dựng bằng đá thanh hoặc đá cẩm thạch, cũng được những con Rùa đá vững chắc đỡ lấy ở bên dưới. Hy vọng con Rùa vững bền thiên niên sẽ đỡ lấy tấm bia đá trường cửu cùng với thời gian và lịch sử.

Rùa đội bia Tiến sĩ tại Văn Miếu
Thương thay thân phận con Rùa
Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia.

Vào thế kỷ 19, nơi mỹ thuật thời Nguyễn, con Rùa thường được sử dụng như một mô-típ trang trí trong đồ hình tứ linh (Long, Lân, Qui, Phụng) hoặc đôi khi chỉ đứng riêng rẽ một mình. Những khi ấy Rùa thường mang trên mình một bộ cổ đồ hay lạc thư, hoặc một chồng sách, cây bút, thanh gươm…, đằng miệng thường phun ra một tia nước khá ngoạn mục, thường gọi là “thủy ba”. Ngoài dạng Rùa y như thực, chúng ta còn gặp những dáng Rùa cách điệu, từ một cánh lá sen hay từ nhiều loại hoa, lá, cây, trái khác biến thể mà thành.

RÙA TRONG PHONG THỦY HỌC VÀ THIÊN VĂN HỌC

Trong phong thủy học có phân loại 4 phương vị tại một vị trí, đó là Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước và Huyền Vũ. Thì rùa là 1 phương vị trong đó: Huyền Vũ.
Huyền Vũ là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con rắn quấn quanh con rùa, có màu đen (huyền, 玄) là màu của hành Thủy ở phương Bắc, do đó tương ứng với mùa đông. Hình dạng khởi thủy của Huyền Vũ là con "vũ" màu đen, với Vũ là một linh vật kết hợp của rắn và rùa. Đây là linh vật rất cổ của Trung Hoa. Trong truyền thuyết về tổ của người Trung Quốc, Phục Hi là Tổ phụ, Nữ Oa là Tổ mẫu, thì Phục Hi có hình rùa, Nữ Oa có hình rắn. Sự kết hợp giữa rắn và rùa tượng trưng cho Trường Tồn và Sức Mạnh.

Trong thiên văn, Nhị thập bát tú là 28 chòm sao lấy Sao Bắc Đẩu làm khởi điểm mà sắp xếp. Tên gọi của 28 chòm sao có liên quan tới Tứ tượng gồm: 7 sao Thanh Long ở phương Đông, 7 sao Huyền Vũ ở phương Bắc, bảy sao Bạch Hổ ở phương Tây, 7 sao Chu Tước ở phương Nam.

Tại Việt Nam, Huyền Vũ còn được gọi là Trấn Vũ (hay Trấn Võ), Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần trấn trị phương Bắc. Thần đã giúp An Dương Vương trừ các loại ma quỷ trong lúc xây thành Cổ Loa (cùng thần Kim Quy). Thần được thờ trong Đền Quán Thánh (Trấn Vũ Quán) - là một trong Thăng Long tứ trấnThăng Long tứ quán, được xây dựng dưới thời Lý Thái Tổ(1010-1028)

Ngôi nhà Mỹ thuật,
Biên soạn từ các nguồn : Wikipedia & nghethuatxua

Nghiên cứu về Tứ linh ở Việt Nam (P2) - Lân

Nghiên cứu Tứ Linh: Lân, Long, Qui, Phụng trong Mỹ Thuật Việt Nam (Phần 2)


Đã có dịp xem xét về con Rồng qua phần 1, bây giờ chúng ta lần lượt đi tìm ý nghĩa cùng những dáng vẻ của ba linh vật còn lại. Trong Phần 2 này, Ngôi nhà Mỹ thuật sẽ chia sẻ một số nghiên cứu về Linh vật đứng thứ hai trong Tứ Linh:

KỲ LÂN


Lân là con vật thần thoại, sản phẩm thuộc trí tưởng tượng nguyên sơ của con người. Lân cũng gọi là Ly hay thường gọi nhất là Kỳ Lân, nhưng theo định nghĩa của tự điển thì Kỳ là để chỉ con Lân đực và Lân là con Lân cái (Đại Nam Quốc âm tự vị, Tome I, trang 510, Saigon, 1895).
tuong ky lan ngoi nha my thuat
Một bức tượng kỳ lân tại Ngôi nhà Mỹ thuật

Hình tượng và ý nghĩa

Léopold Cadière dẫn lại từ Tự điển của J.F.M Génibrel (Dictionnaire Vietnamien – Francais, Saigon, 1988) gọi nó là con Nhân sư (Sphinx), chẳng hiểu tại sao còn giải thích nghĩa thêm vào là thần điểu (Oiseau fabuleux) (l).

Thường thì nó được mô tả gần như một con sư tử, là loài thú có sừng trước trán, đuôi như đuôi bò, mình nai, vảy cá. Theo với phong tục xưa nay, Kỳ lân là hình ảnh tượng trưng của lòng nhân và đức từ bi, của thời thái bình hoan lạc, vẫn được gọi là nhân thú, không bao giờ hại người và vật sống, không dẫm lên cỏ non tươi, không hại đến một sinh vật bé nhỏ nào dù chỉ là một con sâu, cái kiến.

Cũng như loài Phượng, rất hiếm khi Kỳ lân xuất hiện. Chỉ những bậc vương giả minh quân và thánh nhân đức độ mới xứng đáng được nhìn thấy nó, khi ấy nó mình như hươu, đuôi bò, đầu chó sói, móng ngựa và có sừng ngắn bằng thịt.

Với linh giác đặc biệt, Kỳ lân rất tinh khôn, người ta đã từng đào hố chăng bẫy mà chẳng thể bắt được, tuy thế đã có sách Trung Hoa ghi chép việc Lân xuất hiện rồi bị bắt một cách rất huyền hoặc như vầy: Trước khi sinh Khổng Tử, mẹ ngài là bà Nhan Thị thấy xuất hiện một con Kỳ lân nhả tờ ngọc thư có chữ đề Thủy tinh chi tử, kế suy Chu vi tố vương (2). Bà Nhan Thị thấy vậy bèn bắt lấy, buộc dải lụa vào sừng, nhưng chỉ mấy ngày sau Kỳ lân bỗng nhiên biến mất. Năm Khống Tử 71 tuổi, trước ngày mất hai năm lại có Kỳ lân hiện ra nhưng là con lân què một chân do một người đi hái củi bắt được, mọi người cho là điềm bất thường, đem thả ra ngoài đồng. Ông Nhiễm Hữu, môn đệ của Khổng Tú đi xem về nói với Khổng Tử rằng “con đó thân giống con nai mà sừng bằng thịt há là loại yêu quái trên trời xuống chăng?” Khổng Tử đi xem trông thấy khóc ròng rất thương cảm mà nói: “Kỳ lân ra làm gì thế? Đạo ta đã đến lúc cùng rồi vậy.” Rồi hát rằng:

Đời Đường đời Ngu Lân Phượng ra
Nay không phải thời nên tránh xa.
Lân ôi! Lân ôi! Đau lòng ta!
Duy có Lân mới biết Thánh nhân!
Duy có Thánh nhân mới biết Lân! (3)

Khổng Tử viết kinh Xuân Thu. chép đến chuyện “bắt được con Kỳ lân ngoài đồng” thì gác bút không viết nữa nên kinh Xuân Thu thường cũng được gọi là Lân Kinh hay Lân Sư.

Tất nhiên đây chỉ là việc hoang đường huyễn hoặc nhưng xưa nay đối với những bậc vĩ nhân xuất chúng, chuyện thêu dệt ấy chỉ là việc bình thường; cái quan trọng đối với chúng ta là qua đấy mà hiểu cùng cảm thêm được chiều sâu tâm tưởng và cái đẹp của nghệ thuật do sự kiện đưa lại mà thôi.

tuong ky lan Ngoi nha My thuat
Tượng Kỳ Lân trang trí do Ngôi nhà Mỹ thuật tạo hình

Cũng nên biết thêm một chút nữa, do ý nghĩa tôn quý của hình tượng Kỳ lân, dưới các triều đại phong kiến trước đây, thành ngữ vết chân lân, thường chỉ đến dòng dõi vua chúa, và để nói đến các hoàng tử, vương tôn thì gọi là Sừng lân, Lân chỉ (chỉ: ngón chân) là tên một thiên trong Kinh thi nói về con cháu vua Văn Vương nhà Chu đều hay tốt, có đức, có tài. Trong vũ khúc Tứ Linh của cung đình nhà Nguyễn, để múa vào những ngày lễ Vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ. Thiên xuân, ngoài hai con Rồng, hai con Lân, hai con Phượng, hai con Rùa, còn có một con Lân con cùng uyển chuyển hòa hợp trong điệu múa, là do từ ý Lân Mẫu xuất Lân nhi, Lân mẹ sinh ra Lân con hàm nghĩa cha mẹ thông minh sinh ra con cái trí tuệ sáng láng. Con Lân con (Lân tử hay Lân nhi) còn để ám chỉ đến con cái nhà quyền quí, cốt cách hơn người. Đại chúng hóa hơn nữa, nơi các cổ kiệu đám cưới thường có bốn chữ Kỳ lân tại thử là lời cầu chúc tốt lành đại cát cho các cặp tân nhân.

Kỳ Lân tại Việt Nam

Trong nghệ thuật tạo hình truyền thống, Kỳ lân là một mô-típ trang trí khá phổ biến. Mỹ thuật thời Nguyễn hiện nay tương đối vẫn còn toàn vẹn ở Huế là một hiện trường rất tốt để có thể dễ đàng khảo sát hình tượng này.

Ỏ miền Bắc, trên các trụ biểu dẫn vào những di tích kiến trúc cũ, chúng ta vẫn gặp thấy con Kỳ lân án ngữ cùng với rêu phong tuế nguyệt. Thỉnh thoảng, nơi các văn bia đây đó, như trên trán bia Tiến sĩ bằng đá dựng ở Văn miếu Hà Nội năm 1653, có hình hai con Lân chầu mặt trời đang tỏa sáng. Hay trên bia đá chùa Linh Quang ở Hải Phòng (1719), cạnh những con thú dân gian khác như nai, ngựa, mèo. cá, tôm, chuột, con Lân cũng hiện ra trong một dáng vẻ rất sinh động .
Ky lan Viet Nam
Kỳ lân trên bình phong trước một ngôi miếu, mỹ thuật Huế
Thuộc về nền văn hóa và mỹ thuật Huế, có một điều phải để ý là ít khi Cũng con thú ấy mà khi thi gọi là Kỳ lân, khi gọi là Long mã, có lẽ vì hình dáng con Lân vừa giống con Rồng vừa giống con Ngựa chăng?

Thường thì Kỳ lân được tô vẽ hoặc đắp nổi và khảm sành sứ trang trí trên bình phong chắn trước các cung điện, đền đài của vua chúa hoặc trước các chùa chiền miếu mạo. Và dù xuất hiện ở đâu đều cũng rất thuần nhất vì lúc nào cũng mang trên lưng một bộ cổ đồhay một hình bát quái của vua Phục Hi. Nguyên vào thời Phục Hi chưa có chữ viết và sách vở, một hôm vua Phục Hi thấy hiện lên từ dưới sông Hoàng Hà một con Long mã đầu rồng, minh ngựa, đuôi rồng, mà trên lưng có những đường vạch kỳ lạ, mới nhân đấy bắt chước mà vạch ra bát quái. Hình đồ trên lưng con thú ấy gọi là Hà đồ, chính là nguyên ủy các văn tự, văn học và triết học Trung Quốc.

Ky lan Viet Nam
Lư hương có hình Kỳ Lân
Mỹ thuật Huế
Mỹ thuật thời Nguyễn, có chịu ít nhiều ảnh hưởng phong kiến phương Bắc nên dễ hiểu khi chúng ta gặp thấy những con Kỳ lân thường bao giờ cũng mang trên lưng một bộ cổ đồ hay một đồ hình bát quái. Bộ cố đồ ấy chính là chồng sách có dải lụa quấn chung quanh đôi lúc bay phất phới, đặt ngay ngắn trên yên của con Lân, và tùy vào cảm hứng của nghệ sĩ lúc tô vẽ, khắc chạm, muốn làm cho phong phú hơn theo trí tưởng tượng cua mình mà thêm bớt vào một quản bút hay một thanh kiếm, một cái quạt, một ống tiêu rút ra từ mô-típ bát bủu cũng rất quen thuộc đối với các nghệ sĩ cổ truyền.

Kỳ lân xuất hiện chú yếu trên các bình phong nhưng đôi lúc cũng được đục chạm trên bộ sườn nhà như xuyên, trến, cột, kèo, và thỉnh thoảng được đắp nổi cuối đường gờ hai bên mái nhà như một dấu nhấn góp thêm phần vững chắc cho toàn bộ công trình kiến trúc và trang trí (ở vị trí này, thường là Rồng hay Phượng xuất hiện, Lân thì rất hiếm hoi).

Có một điều hơi lạ là trên đầu trụ biểu dựng trước chùa chiền đình miếu thường có con thú trông giống như con sư tử, rất dễ nhận ra ở đầu, đuôi, bộ lông, nhất là những vuốt nhọn chứ không phải móng, vậy mà người Việt ta vẫn gọi là Kỳ lân hay con Nghê. Léopold Cadiêre khi khảo sát về mỹ thuật Huế đã dễ dàng nhận ra điều này, nhưng ông vẫn xếp nó vào loại kỳ lân đúng như cách gọi và lòng tin của người Việt (L’Art à Huế, p.59).

Gần như trên, chúng ta côn gặp một số tượng trang trí nhỏ gọi là Kỳ lân thực ra chính là sư tử, cũng thế với trường hợp con Lân chính là lư hương và trên lưng nó còn có một con lân khác nhỏ hơn nữa dùng để làm nút cầm cho nắp lư. Ngoài những thể dạng trên, từ những họa tiết trang trí hoa trái cách điệu đôi lúc cũng biến chuyển mà thành. Lân như một cành lê, một nhánh cúc, một cành mẫu đơn chuyển hóa thành Lân.

Kỳ lân đã cùng với Rồng và Rùa tập hợp thành một vẻ đẹp tuy có phần thâm nghiêm, nhiều lúc đã gắn bó quá đà với nền nghệ thuật cung đình mà như quên lãng nhân dân, nhưng nói chung, đối với toàn thể dân tộc nó vẫn là một di sản cổ kính quý báu, mãi mãi là kỷ niệm đẹp đẽ, là một phần máu thịt sâu sắc của đất nước vậy.

Ngôi nhà Mỹ thuật,
Sưu tầm từ các nguồn :
Wikipedia & nghethuatxua